Cần chấm dứt những báo cáo vô căn cứ về tự do Internet ở Việt Nam

Thực tế cho thấy những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) qua các chu kỳ. Tổ chức này luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người, thể hiện qua việc thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam được nhắc đến khi luôn đặt sức khỏe của người dân lên mối quan tâm hàng đầu. Theo báo cáo của Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP), năm 2020, Việt Nam đã lọt vào nhóm các nước có Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao trên thế giới. Từ năm 1990 đến 2019,  HDI của Việt Nam đã tăng gần 46%, thuộc nhóm các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất thế giới. Việt Nam cũng là một trong số những quốc gia đã về đích sớm trong việc thực hiện nhiều Mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ và đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững.

Những thành tích của Việt Nam về Internet cũng hết sức ấn tượng. Theo thống kê, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ trung bình của thế giới là 51,4%. Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới. Tại Việt Nam, hàng chục triệu người dân đang sử dụng Internet để phục vụ cho việc học tập, làm việc, giải trí,…

Ở Việt Nam, hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động, trong đó một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram, Tiktok,... trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất với hơn 65 triệu người sử dụng. Người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất là qua các trang web, mạng xã hội. Nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương đã và đang sử dụng internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân,…

Đó là những minh chứng sinh động của việc Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do Internet.

Vì thế, việc Freedom House chỉ trích Luật An ninh mạng của Việt Nam nhằm kiểm soát người dân sử dụng Internet là hết sức phi lý. Cần khẳng định rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam ra đời là nhằm làm lành mạnh hóa không gian mạng xã hội và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng, xuất phát từ thực tế rằng việc có số lượng người sử dụng mạng xã hội quá lớn kéo theo nhiều hành vi vi phạm như bán hàng lừa đảo, đưa những video clip trái với thuần phong mỹ tục lên không gian mạng, lợi dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật, thông tin xấu độc vì động cơ cá nhân, kích động, gây rối trật tự xã hội,….

Việc thực hiện quyền tự do Internet và mạng xã hội tại Việt Nam luôn được đặt trong khung khổ pháp luật, qua đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội để vi phạm pháp luật Việt Nam nhằm kích động, chia rẽ xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào nước ta.

Cũng cần phải nói rõ rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, cụ thể ở đây là  Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).

Internet là không gian truyền thông lớn nhất trên thế giới hiện nay, là nơi các tầng lớp, cộng đồng và cá nhân trên thế giới có quyền bày tỏ chính kiến, quan điểm. Quyền tự do này đã được LHQ quy định rõ ràng tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 19 của ICCPR.  Tuy nhiên, Khoản 3 cũng nêu rõ: " Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt.

Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức công chúng”.

Rõ ràng, khi đưa ra các đánh giá về tự do Internet tại Việt Nam, Freedom House đã cố tình phớt lờ những quy định trên của ICCPR, đồng thời bỏ qua một thực tế hiển nhiên là không chỉ Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng mà trên thế giới đã có hơn 180 quốc gia đã ban hành luật này hoặc quy định các điều luật về an ninh mạng trong bộ luật bảo đảm an ninh quốc gia. Nhiều quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,… đã có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc những hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Những đánh giá thiếu khách quan, thiên lệch của Freedom House về tự do Internet của Việt Nam được lặp đi lặp lại kể từ khi Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng là nhằm kích động, gây rối xã hội. Những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam chủ yếu thông qua các tổ chức phản động, các đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam. Rõ ràng, những thông tin đó phản ánh không đúng thực tiễn. Mục đích là nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc về vấn đề tự do Internet và nhân quyền tại Việt Nam nhằm bôi xấu hình ảnh, hạ thấp uy tín, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vladimir Kolotov - Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh tại Saint-Peterburg (LB Nga), khẳng định: "Năm nào, Freedom House cũng công bố bảng danh sách mang tính chủ quan, không có gì thay đổi, không phản ánh tình hình thực tiễn về các khía cạnh nhân quyền của các nước trên thế giới. Họ không dựa trên cơ sở trên thực tế. Họ tự cho mình quyền cáo buộc nước khác vi phạm nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng... và dựa vào đó để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác".

Rõ ràng, Freedom House không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét thiếu khách quan, thiên lệch về tình hình tự do Internet và nhân quyền ở Việt Nam. Freedom House cần chấm dứt ngay những báo cáo vô giá trị như vậy.

Phản hồi

Các tin khác