Tận dụng các ưu đãi trong các FTA thế hệ mới để đẩy mạnh xuất khẩu
Cảng Quốc tế Lạch Huyện tại Hải Phòng là cảng biển nước sâu đầu tiên của khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc (Ảnh: TXVN)

Cảng Quốc tế Lạch Huyện tại Hải Phòng (Ảnh minh họa: TTXVN)

Kết quả tích cực từ các FTA

Chỉ sau vài năm các Hiệp định CPTPP và EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường này tăng mạnh.

Hiệp định CPTPP chính thức có hiệu lực tại Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, Singapore và New Zealand vào ngày 30/12/2018, có hiệu lực tại Việt Nam từ 14/1/2019, có hiệu lực tại Peru từ ngày 19/9/2021. Ngày 05/10/2022, Malaysia đã chính thức phê chuẩn CPTPP và Hiệp định có hiệu lực với nước này vào ngày 29/11/2022.

Sau hơn 3 năm đi vào thực thi, Hiệp định CPTPP đã mở ra cơ hội cho Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường CPTPP. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường thành viên Hiệp định CPTPP trong giai đoạn 2019 – 2021 tăng trưởng bình quân 7,6%/năm, trong đó năm 2021 đạt 45,67 tỷ USD, tăng 18,0% so với năm 2020. Trong 11 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường các nước CPTPP đã vượt mức thực hiện trong cả năm 2021, đạt 49,45 tỷ USD, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong bức tranh chung đó, xuất khẩu hàng hóa sang một số nước thành viên CPTPP mà Việt Nam chưa có FTA trước đây là Canada, Mexico, Peru tăng trưởng rất tích cực. Năm 2021, xuất khẩu hàng hóa sang 3 thị trường trên đều tăng trưởng ở mức 2 chữ số so với năm 2020 (Canada tăng 20,8%, Mexico tăng 44,3% và Peru tăng 84,4%) và tăng cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước. Đáng chú ý, so với năm 2018 – năm trước khi Hiệp định có hiệu lực, mức kim ngạch xuất khẩu trong năm 2021 sang Mexico đã tăng gấp 2 lần, sang Pêru tăng gần 2,2 lần, sang Canada tăng 1,75 lần. Trong 11 tháng năm 2022, xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường này vẫn duy trì được đà tăng trưởng, trong đó kim ngạch xuất khẩu sang Canada đã cao hơn mức thực hiện trong năm 2021, đạt 5,91 tỷ USD, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm 2021 và tăng 12,2% so với mức thực hiện trong cả năm 2021. Điều này cho thấy CPTPP đã và đang góp phần quan trọng để mở rộng đường cho hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước châu Mỹ vốn còn rất mới mẻ và nhiều tiềm năng.

Theo thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), Việt Nam là thành viên CPTPP duy nhất có thị phần hàng hóa gia tăng tại Canada và Mexico. Trong giai đoạn 2019 – 2021, nhập khẩu hàng hóa của Canada từ Việt Nam tăng trưởng bình quân 22,1%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân 5,4%/năm của giai đoạn 2016 – 2018 (giai đoạn trước khi thực thi Hiệp định CPTPP) và cao hơn mức tăng trưởng tổng nhập khẩu hàng hóa của nước này (3,9%/năm). Thị phần hàng hóa của Việt Nam tại Canada trong năm 2018 (năm trước khi thực thi Hiệp định) là 0,9%, đã tăng lên 1,2% trong năm 2019 – năm đầu thực thi Hiệp định và năm 2021 đã tăng lên 1,5%. Tại Mexico, nhập khẩu hàng hóa của nước này từ Việt Nam trong giai đoạn 2019 – 2021 tăng trưởng bình quân 19,0%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng 4,8%/năm trong giai đoạn 2016 – 2018. Thị phần hàng hóa của Việt Nam tại Mexico trong năm 2018 là 0,95% đã tăng 1,8 lần, lên 1,7% trong năm 2021. 

Các ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, giày dép, thủy sản… đang tận dụng CPTPP để tăng tốc xuất khẩu hiệu quả. CPTPP đang chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và hầu hết các thành viên đều cam kết sẽ đưa thuế quan về mức 0% trong vòng 3 năm. Trong 11 tháng năm 2022, xuất khẩu thủy sản sang CPTPP đạt 33,5 tỷ USD, tăng 37,8% so với cùng kỳ năm 2021 – cao hơn mức tăng xuất khẩu sang EU và cao hơn mức tăng trưởng tổng xuất khẩu thủy sản của cả nước. Thời gian qua, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang một số thị trường CPTPP thay đổi rõ rệt. Trước khi CPTPP có hiệu lực, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Canada chiếm khoảng 2,7% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, thì trong 11 tháng 2022 tăng lên 3,5%; Australia tăng từ 2,2% lên 3,3%. CPTPP được các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam tận dụng nhiều hơn EVFTA. Bởi với khối EVFTA, thì bị vướng những rào cản như thẻ vàng, IUU...; trong khi ngoại trừ Nhật Bản mới đây cũng áp dụng kiểm soát IUU, thì các nước thành viên khác trong CPTPP hoàn toàn rộng mở với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam.

Xuất khẩu các mặt hàng khác sang các thị trường CPTPP cũng ghi nhận những kết quả rất khả quan. Trong 11 tháng năm 2022, xuất khẩu dệt may sang CPTPP đạt 5,906 tỷ USD, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm 2021; giày dép đạt 2,79 tỷ USD, tăng 43,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 5,60 tỷ USD, tăng 21,9%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 27,0%; túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù tăng 53,1%; cà phê tăng 39,5%...

Đối với Hiệp định EVFTA, sau hơn 2 năm thực thi Hiệp định, xuất khẩu của Việt Nam sang EU đã ghi nhận kết quả khả quan. Theo đó, năm 2021 và những tháng đầu năm 2022, trao đổi thương mại hai chiều Việt Nam - EU tiếp tục đà phục hồi và tăng trưởng rất mạnh, kể cả so với thời kỳ trước đại dịch. Hiệp định EVFTA đã hỗ trợ tích cực cho hàng hóa Việt Nam và EU tiếp cận thị trường của nhau, đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung của cả hai bên.

EU hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2015 - 2021 đạt 7,5%, chiếm tỷ trọng bình quân 13,6% trong tổng xuất khẩu của cả nước. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang EU trong 11 tháng năm 2022 đạt 43,38 tỷ USD, tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2021. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang hầu hết các thị trường trong khối EU đều ghi nhận sự tăng trưởng tốt và chứng kiến sự chuyển dịch tích cực; không chỉ tập trung vào các thị trường lớn, cửa ngõ EU như: Đức, Hà Lan, Pháp… mà xuất khẩu đang dần được đẩy mạnh sang các thị trường nhỏ hơn, thị trường ngách tại: Bắc Âu, Đông Âu hay Nam Âu.

Đáng chú ý, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu vào EU cũng có xu hướng mở rộng và đa dạng hóa. Hiệp định EVFTA đi vào thực thi cũng góp phần đáng kể giúp hàng hóa Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị phần tại thị trường EU. Thực tế sau hai năm thực thi đã ghi nhận nhiều kết quả nổi bật, trong đó những ngành hàng như: dệt may, da giày, đặc biệt là nông sản được đánh giá là có nhiều lợi thế để gia tăng thị phần tại thị trường này. 11 tháng năm 2022, xuất khẩu dệt may sang EU tăng 41,8% so với cùng kỳ năm 2021; giày dép tăng 53,6%; cà phê tăng 45,6%; thủy sản tăng 24,9%; rau quả tăng 23,5%; túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù tăng 41,7%; rau quả tăng 23,3%...

Tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan EVFTA (sử dụng C/O mẫu EUR.1) năm 2020 đạt 14,8%, tăng lên 20,2% năm 2021 và 24,5% trong 6 tháng đầu năm 2022. Đây là mức tỷ lệ khá khiêm tốn, nhưng nếu so sánh với tỷ lệ sử dụng ưu đãi thuế quan trong các năm đầu thực thi của phần lớn các FTA thì đây lại là kết quả rất đáng khích lệ. Ví dụ, tỷ lệ sử dụng ưu đãi thuế quan EVFTA năm đầu cao hơn xấp xỉ 2,5 lần so với tỷ lệ sử dụng ưu đãi của VNEAEU FTA và AFTA năm đầu thực thi, cao hơn 1,5 lần so với ACFTA, hơn 6 lần so với AIFTA. Cần chú ý là trong 2 năm đầu thực thi EVFTA, theo cam kết hàng hóa xuất khẩu Việt Nam vẫn tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế quan theo chế độ GSP mà EU đang đơn phương dành cho Việt Nam trước đó. Nhiều doanh nghiệp vẫn tiếp tục sử dụng ưu đãi GSP do quen thuộc hơn, do đó chưa cần sử dụng tới ưu đãi của EVFTA.

Theo thống kê, nhóm sản phẩm xuất khẩu tận dụng tốt nhất các ưu đãi thuế quan EVFTA giai đoạn đầu bao gồm gạo (tỷ lệ sử dụng gần như 100%), giày dép (74-98%), thủy sản (70-76%), nhựa và các sản phẩm nhựa (53-70%)… Từ đây, các lợi ích từ việc thực thi EVFTA có thể lan tỏa tới nhiều khu vực dân cư yếu thế trong các lĩnh vực nông thủy sản, khu vực sử dụng nhiều lao động nữ…

Tiếp tục tận dụng các ưu đãi thuế quan và đẩy mạnh xuất khẩu

Cơ hội và thách thức từ các FTA là song hành và khá rõ ràng. Các FTA chỉ có thể mang lại lợi ích thực sự cho nền kinh tế khi cộng đồng doanh nghiệp có thể phát huy tối đa vai trò và năng lực của mình trong quá trình thực thi các Hiệp định.

Để tiếp tục mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần đón đầu và tận dụng cơ hội về dòng vốn dịch chuyển đầu tư... chủ động tìm hiểu thông tin thị trường, thị hiếu tiêu dùng, cập nhật các yêu cầu, quy định mới để kịp thời thích ứng, điều chỉnh kế hoạch sản xuất và xuất khẩu phù hợp. Có tầm nhìn dài hạn và chiến lược kinh doanh cho từng mặt hàng cụ thể, từng thị trường mục tiêu. Doanh nghiệp nên đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, gia tăng các sản phẩm trên các thị trường ngách, có lợi thế cạnh tranh; tiếp cận thêm các thị trường mới.

Để tận dụng tối đa ưu đãi trong các FTA, cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu và nắm bắt thông tin về mặt hàng và thị trường cũng như những ưu đãi thuế quan theo các hiệp định đem lại để biết được rằng cơ hội ở thị trường nào và nhóm hàng nào. Quan tâm hơn đến những quy định về quy tắc xuất xứ, tìm hiểu xem làm thế nào để đáp ứng được quy tắc xuất xứ để được hưởng ưu đãi thuế quan, trên cơ sở đó để xây dựng những chiến lược cũng như là kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp.

Ngoài ra, cần nghiên cứu đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật, các quy chuẩn thực hành tốt trong sản xuất, tăng cường chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh. Đáng lưu ý, việc gia tăng các tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững là xu hướng tất yếu trên toàn cầu. Do đó, doanh nghiệp phải nỗ lực xanh hóa sản xuất, cũng như thực hiện các trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường cần được chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa./.

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất