Phát triển kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng: Xây dựng chính sách ưu tiên vượt trội
Với tiềm năng, lợi thế vượt trội sẵn có, Hải Phòng đang phát triển với vai trò như đầu tàu dẫn dắt trong phát triển kinh tế của Vùng đồng bằng sông Hồng

Với tiềm năng, lợi thế vượt trội sẵn có, Hải Phòng đang phát triển với vai trò như đầu tàu dẫn dắt trong phát triển kinh tế của Vùng đồng bằng sông Hồng

Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng Sông Hồng

Thực tế phát triển đang đặt ra nhiều thách thức cho khu vực này, đòi hỏi cần có chính sách mới. Trên cơ sở đánh giá toàn diện, sâu sắc tình hình và kết quả sau 17 năm thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, kinh tế-xã hội toàn vùng Đồng bằng sông Hồng, ngày 23/11/2022 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 30-NQ/TW về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: phát triển nhanh, bền vững vùng Đồng bằng sông Hồng là trách nhiệm của các địa phương trong vùng và toàn hệ thống chính trị. Chính phủ và các cơ quan ở Trung ương cần tăng cường phối hợp với các địa phương trong vùng sớm xây dựng, hoàn thiện, ban hành và triển khai thực hiện luật pháp, chính sách ưu tiên vượt trội, có tính đột phá cao cho phát triển vùng.

Khẳng định vai trò vùng kinh tế động lực

Vùng Đồng bằng sông Hồng được coi là cửa ngõ phía Bắc của Việt Nam và ASEAN về kết nối phát triển kinh tế, thương mại với Trung Quốc - thị trường rộng lớn nhất thế giới và ngược lại; có hệ thống hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ và tốt nhất cả nước về cả đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường sắt. Vùng  gồm 11 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được phân thành hai tiểu vùng là: Tiểu vùng Bắc Đồng bằng sông Hồng gồm bảy tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên và Tiểu vùng Nam Đồng bằng sông Hồng gồm bốn tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Xuất phát từ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng, ngày 14/9/2005, Bộ Chính trị khoá IX ban hành Nghị quyết số 54-NQ/TW và ngày 28/10/2011, Bộ Chính trị khoá XI ban hành Kết luận số 13-KL/TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và thời kỳ 2011 - 2020. Qua 17 năm thực hiện Nghị quyết và Kết luận của Bộ Chính trị các khoá IX và XI, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân trong vùng đã phát huy truyền thống văn hiến, cách mạng, anh hùng vẻ vang cùng tiềm năng, lợi thế vượt trội, nhất là về nguồn nhân lực, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, liên tục phấn đấu đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng.

Nhờ đó, vùng Đồng bằng sông Hồng luôn khẳng định được vị trí, vai trò của một vùng kinh tế động lực, có đóng góp to lớn, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu cho tăng trưởng kinh tế của cả nước, thúc đẩy, hỗ trợ các vùng khác cùng phát triển.

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 54-NQ/TW, mặc dù chịu không ít tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng hoạt động sản xuất công nghiệp của hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng luôn giữ vững và duy trì đà tăng trưởng cao. Từ đó, khẳng định vai trò là vùng kinh tế động lực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của cả nước. Quy mô, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, hiện đại, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng.

Theo đó, tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 cả vùng ước đạt 251 nghìn tỷ đồng; đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp toàn vùng đạt 319,18 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 4,9%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và đến năm 2020 đạt 551,77 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 11,75%/năm trong giai đoạn 2016-2020. Trong đó, thành phố Hà Nội đạt giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất, tiếp đến là Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh…

Ngành công nghiệp-xây dựng tiếp tục duy trì vai trò trụ cột tăng trưởng của vùng; tỷ trọng GDP ngành công nghiệp-xây dựng của vùng Đồng bằng sông Hồng so với cả nước đã tăng từ 28,6% (năm 2016) lên 30,7% GDP (năm 2020), tập trung chủ yếu từ các ngành công nghiệp mũi nhọn như: điện, điện tử, lắp ráp ôtô, đóng tàu, dệt may, công nghiệp phụ trợ.

Các địa phương đều ưu tiên các dự án có công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, hàm lượng chất xám cao và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số chuyên ngành, lĩnh vực, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu. Công nghiệp phát triển đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn vùng đạt khá cao, quy mô kinh tế đứng thứ hai trong sáu vùng và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước.

Tại Bắc Ninh, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Đình Xuân cho biết, đến nay, Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao của cả nước. Năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.500 nghìn tỷ đồng, gấp 91,1 lần so với năm 2005. Với quy mô này, sản xuất công nghiệp của Bắc Ninh đã vươn lên vị trí thứ nhất cả nước.

Hiện tỉnh Thái Bình có khoảng 34 nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp; trong đó, số cơ sở ngoài nhà nước chiếm đến 99,8% và có tới 96,4% số cơ sở công nghiệp thuộc lĩnh vực chế biến, chế tạo. Năm 2020, giá trị sản xuất công nghiệp đã đạt 69.075 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với năm 2015 và chiếm 26,6% GRDP của tỉnh.

Còn tỉnh Nam Định đã thu hút được tổ hợp các nhà máy sản xuất thép xanh của Tập đoàn Xuân Thiện ở huyện Nghĩa Hưng với tổng mức đầu tư được phê duyệt là 98 nghìn tỷ đồng. Tỉnh đang tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp Mỹ Thuận, các cụm công nghiệp Thanh Côi, Yên Bằng; mở rộng Khu công nghiệp Bảo Minh; đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp dệt may Rạng Đông, Cụm công nghiệp Thịnh Lâm; triển khai các thủ tục đầu tư các cụm công nghiệp Giao Thiện, Giao Yến...

Đổi mới về tư duy và nhận thức

Nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng, làng cổ Bát Tràng là làng nghề truyền thống nổi tiếng và lâu đời nhất ở Việt Nam về các sản phẩm từ gốm sứ

Nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng, làng cổ Bát Tràng là làng nghề truyền thống nổi tiếng và lâu đời nhất ở Việt Nam về các sản phẩm từ gốm sứ

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vượt trội và vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vùng; quy mô kinh tế còn nhỏ, các ngành sản xuất với công nghệ hiện đại chiếm tỉ lệ thấp, chưa tạo được tiền đề cho sự phát triển nhanh và bền vững hơn nữa. Một số loại thị trường hình thành chậm và chưa đồng bộ. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới. Công nghiệp, đô thị phát triển khá nhưng còn mang tính tự phát; ô nhiễm môi trường có xu hướng tăng nặng hơn.

Vùng vẫn chưa hình thành được các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung cho xuất khẩu; giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích chưa cao; tỉ lệ lao động nông nghiệp thiếu việc làm còn lớn; đời sống nhân dân ở nhiều vùng nông thôn còn khó khăn. Trình độ phát triển giữa các địa phương trong vùng, giữa các tiểu vùng còn có sự chênh lệch đáng kể.

Tại hội nghị toàn quốc trực tiếp kết hợp với trực tuyến quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XIII về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Nghị quyết này của Bộ Chính trị đã đề ra đầy đủ, đồng bộ các giải pháp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, bao gồm các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng; về chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng để phát triển nhanh và bền vững vùng, các tiểu vùng và các địa phương trong vùng; phát triển khoa học - công nghệ, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh...

Để tổ chức thực hiện thật tốt, có kết quả thiết thực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, các địa phương trong vùng phải nhận thức thật đầy đủ và sâu sắc mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nội dung của Nghị quyết. Đồng thời, nắm vững những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những công việc phải làm, trên cơ sở đó có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm của cả nước, của toàn vùng, từng địa phương trong vùng, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương; xác định rõ đây là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, chứ không chỉ là nhiệm vụ riêng của vùng và các địa phương trong vùng.

Trên cơ sở đổi mới về tư duy và nhận thức, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, Chính phủ và các cơ quan ở Trung ương tăng cường phối hợp với các địa phương trong vùng sớm xây dựng, hoàn thiện, ban hành và triển khai thực hiện luật pháp, chính sách ưu tiên vượt trội, có tính đột phá cao cho phát triển vùng.

Cùng đó, xây dựng và tổ chức thực hiện thật tốt quy hoạch phát triển vùng giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo hướng xanh, bền vững và toàn diện; phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, bảo đảm tích hợp, đa ngành; gắn kết giữa phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp và dịch vụ; giữa phát triển đô thị với xây dựng nông thôn mới; giữa phát triển kinh tế với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; ứng phó với thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; hình thành cho được các chuỗi giá trị ngành, sản phẩm của vùng.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 492/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, nội dung quy hoạch tập trung phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố, điều kiện tự nhiên, nguồn lực đặc thù của vùng; đánh giá tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức; các vấn đề trọng tâm cần giải quyết trong quy hoạch vùng. Dự báo triển vọng và nhu cầu phát triển vùng các mặt kinh tế, xã hội và môi trường và tổ chức không gian lãnh thổ; xây dựng và lựa chọn kịch bản phát triển.

Cùng với đó, xác định quan điểm và mục tiêu phát triển vùng; xây dựng phương hướng phát triển ngành có lợi thế của vùng; xây dựng phương án phát triển, sắp xếp, lựa chọn và phân bổ nguồn lực phát triển trên lãnh thổ vùng; phương hướng xây dựng, tổ chức không gian. Đồng thời, xây dựng phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng vùng; xây dựng phương hướng bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu trên lãnh thổ vùng.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An đề xuất, cần làm rõ quy hoạch vùng, bố trí không gian phát triển cho vùng, nhất là phải xác định được cái nào phục vụ địa phương, cái nào phục vụ nội vùng và quốc gia để đạt được mục tiêu tổng thể...

Để khắc phục tình trạng liên kết chưa chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Duy Hưng nhấn mạnh, cơ quan điều hành vùng phải tạo ra được cơ chế liên kết nội vùng và liên kết với 5 vùng khác trong cả nước một cách hiệu quả. Liên kết phải đồng bộ, chặt chẽ, tạo ra đột phá kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, đồng thời, khai thác tiềm năng rất lớn của kinh tế biển của cả vùng.

Về mô hình điều hành liên kết vùng, Tiến sĩ Trần Đình Thiên cho rằng, phải làm rõ quyền lực và nguồn lực để bảo đảm thực thi quyền lực đối với mô hình này. Giữa các địa phương thì quyền lực vùng phải ngăn được xung đột, cạnh tranh không lành mạnh hay phân tán nguồn lực. Trên cơ sở đó, ông Trần Đình Thiên kiến nghị những vấn đề cho mô hình điều hành liên kết vùng.

Cụ thể là quyền lực thực hiện quy hoạch vùng để thiết kế lợi ích phát triển của vùng ưu tiên hơn so với quyền lợi của từng tỉnh, thành phố. Ngoài ra, phải có thể chế giám sát và có giải pháp tối ưu cho phát triển kinh tế-xã hội tác động lợi ích chung cả vùng; có nguồn lực thực thi các dự án cấp vùng.

Để vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển nhanh, bền vững hơn trong thời gian tới làm tốt hơn vai trò của vùng là giúp các vùng khác trong nước phát triển, phải có nhiều đánh giá sâu, nhiều chiều về các tiềm năng, lợi thế, điều kiện kinh tế-xã hội, trình độ phát triển của vùng, các địa phương.

Đồng thời, đề xuất, kiến nghị thêm về nhiệm vụ, giải pháp đột phá cho vùng, nhất là hình thành, phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế và các trung tâm kinh tế, vùng động lực mới; gợi mở các mô hình tốt, cách làm hay xuất phát từ thực tiễn, phù hợp điều kiện kinh tế-xã hội địa phương và vùng để bổ sung các đánh giá và đề xuất nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách thí điểm hoặc nhân rộng.

Phản hồi

Các tin khác