Muốn xuất khẩu bền vững, doanh nghiệp phải ‘xanh hoá’ sản xuất
Trong 2 phiên thảo luận tại hội thảo, các diễn giả và đại biểu đã trao đổi nhằm xác định những điểm mạnh, yếu trong xuất khẩu hiện nay

Trong 2 phiên thảo luận tại hội thảo, các diễn giả và đại biểu đã trao đổi nhằm xác định những điểm mạnh, yếu trong xuất khẩu hiện nay

Theo Bộ Công Thương, tính đến nay Việt Nam đã và đang tham gia đàm phán, ký kết 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó 3 FTA thế hệ mới là Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) có phạm vi rộng lớn hơn, ngoài các cam kết về thương mại, dịch vụ và đầu tư, còn bao gồm cả các thể chế, pháp lý. Các FTA thực thi đã và đang tác động mạnh mẽ tới phát triển kinh tế cũng như xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Chia sẻ tại hội thảo "Xuất khẩu vào các thị trường FTA: Giải bài toán phát triển bền vững" do Báo Công Thương tổ chức ngày 18/11, bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường Âu-Mỹ (Bộ Công Thương) nhận định, việc tham gia ký kết hàng loạt các FTA thời gian qua đã tạo đà cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng hiệu quả hơn.

Các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng và khai thác tương đối hiệu quả những lợi ích mang lại từ hiệp định. Cụ thể, trong 8 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam với các nước thành viên CPTPP đạt 31,4 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2021. Trong  khi đó, 10 tháng năm 2022, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU đạt 39,4 tỷ USD, tăng 22,3%.

Tuy nhiên, theo Bộ Công Thương, dù đã thu về những kết quả ấn tượng, nhưng những cam kết và quy định tại các FTA, nhất là FTA thế hệ mới tương đối mới và phức tạp nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, chưa tận dụng tối ưu được các ưu đãi. Đặc biệt, năm 2022, sau gần 2 năm chống chọi với đại dịch, khi các nền kinh tế và hoạt động thương mại giữa các nước trên thế giới bình thường hóa trở lại, nhiều nước bắt đầu đưa ra những tiêu chuẩn cao hơn với hàng nhập khẩu nhằm bảo vệ sản xuất trong nước cũng như sức khỏe của người tiêu dùng.

"Xu hướng này được nhận định sẽ tác động lớn đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong thời gian tới, gia tăng thêm hàng rào về mặt kỹ thuật và hành chính đối với cả các mặt hàng từ nông nghiệp đến công nghiệp", bà Hiền chia sẻ.

Ông Jean Jacques Bouflet - Phó Chủ tịch EuroCham cho biết, để tận dụng hiệu quả hơn Hiệp định EVFTA và các FTA khác, điều quan trọng nhất là cần phải cung cấp thông tin đầy đủ cho cộng đồng doanh nghiệp skhi tham gia vào thị trường EU và vượt qua thách thức, rào cản về kỹ thuật, xu hướng tiêu dùng mới đang phát sinh ở thị trường EU.

“Hiện nay, thị trường EU đang có xu hướng dịch chuyển rất mạnh mẽ sang tiêu dùng hàng hóa xanh, sạch và đáp ứng tiêu chuẩn về lao động, về môi trường… tức là họ không chỉ đơn thuần yêu cầu về giá cả, chất lượng mà còn quan tâm đến quy trình sản xuất hàng hóa đó như thế nào. Vì vậy, để đẩy nhanh thực thi EVFTA hiệu quả, doanh nghiệp cần đón đầu xu hướng này, nếu như thành công, giá trị thu được trong quá trình xuất khẩu sang EU sẽ lớn hơn rất nhiều”, ông Jean Jacques Bouflet nói.

Chia sẻ về kinh nghiệm xuất khẩu vào các thị trường quốc tế, ông Lý Trung Kiên, Trưởng bộ phận Logistics toàn quốc, Nestlé Việt Nam, cho biết hiện sản phẩm của công ty đang xuất khẩu sang hơn 30 thị trường trên thế giới, trong đó có các thị trường khó tính tại EU, như Thụy Sĩ, Anh… Đặc biệt, Nestlé Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sản phẩm giá trị cao, được chế biến bằng công nghệ hiện đại, như các sản phẩm cà phê, gia vị.

Để có ưu thế về chất lượng và đáp ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường khó tính, doanh nghiệp phải đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu bền vững cho đến công nghệ hiện đại, mở rộng sản xuất chế biến chuyên sâu, giá trị cao. Đơn cử với sản phẩm cà phê, Nestlé Việt Nam thực hiện chương trình NESCAFÉ Plan từ năm 2011 đến nay, nhằm hoàn thiện chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất cà phê từ người nông dân đến người tiêu dùng, giúp kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác, hỗ trợ cải thiện thu nhập cho người nông dân, đảm bảo bền vững về môi trường.

Bà Tô Thị Tường Lan, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho rằng, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn, nhưng chưa có chiến lược xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, hay organic, mà hiện nay chúng ta xuất thô hơn 80% cho các nước khác chế biến. Do đó, doanh nghiệp nên có chiến lược chuyển hướng sang xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu. Để làm được điều này các cơ quan chức năng phải hỗ trợ đồng thời phát triển thêm công nghiệp hỗ trợ.

Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thảo Hiền cho biết, từ thực tiễn và yêu cầu mới đặt ra từ các thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nắm bắt, điều chỉnh kế hoạch sản xuất và kinh doanh bài bản để kịp thời thích nghi với các yêu cầu, quy định mới của thị trường; tham gia hiệu quả, bền vững vào chuỗi cung ứng; nỗ lực xanh hóa sản xuất, cũng như thực hiện các trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường cần được chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa.

Liên quan đến phát triển xuất khẩu bền vững, Bộ Công Thương đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành Quyết định số 493/QĐ-TTg ngày 19/4/2022 phê duyệt Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030.

Theo chiến lược này, định hướng xuất khẩu hàng hoá yêu cầu phát triển xuất khẩu bền vững, phát huy lợi thế so sánh và chuyển đổi mô hình tăng trưởng hợp lý theo chiều sâu, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo vệ môi trường sinh thái và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

Phản hồi

Các tin khác