Cần lộ trình bài bản trong phát triển dịch vụ logistics Việt Nam
Ông Trần Duy Đông- Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Ông Trần Duy Đông- Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 221/QĐ-TTg ngày 22/2/2021 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025, sáng 24/1, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo xin ý kiến về dự thảo Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phát biểu tại hội thảo, ông Trần Duy Đông- Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh, ngày 14 tháng 2 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg về phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025. Đây là văn bản quan trọng bước đầu đánh dấu sự quan của các cấp, các ngành đến phát triển của ngành dịch vụ logistics của Việt Nam kể từ sau khi ban hành Luật Thương mại năm 2005.

Theo ông Trần Duy Đông, thời gian qua, nhận thức về vai trò và tiềm năng phát triển ngành dịch vụ logistics được nâng cao ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương và hiệp hội, doanh nghiệp. Điều này được thể hiện rõ trong chủ trương của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội có liên quan, về cơ bản đều chủ động ban hành Kế hoạch hành động để triển khai thực hiện Quyết định 200/QĐ-TTg và Quyết định 221/QĐ-TTg.

Cùng đó, ngành dịch vụ logistics đóng góp tích cực vào hoạt động kinh tế, trước hết là xuất nhập khẩu và sản xuất, lưu thông phân phối trong nước. Mặc dù chi phí logistics của Việt Nam vẫn còn khá cao nhưng ngành dịch vụ logistics đã có những đóng góp không nhỏ đưa hoạt động xuất nhập khẩu thành điểm sáng bởi tốc độ tăng trưởng vượt bậc.

Ngoài ra, hạ tầng logistics ngày càng được cải thiện qua việc Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quan tâm đầu tư phát triển các tuyến đường cao tốc, sân bay, bến cảng và trung tâm logistics được xây dựng mới. Thị trường dịch vụ logistics ngày càng mở rộng, số lượng doanh nghiệp và chất lượng dịch vụ logistics gia tăng và từng bước được nâng cao, tham gia tích cực vào việc hỗ trợ sản xuất, lưu thông trong nước và xuất nhập khẩu.

Đáng lưu ý, việc đào tạo, ứng dụng công nghệ và hoạt động khác hỗ trợ tích cực cho ngành dịch vụ logistics cũng ngày càng được quan tâm phát triển. Nhiều giải pháp công nghệ được ứng dụng trong quản lý kho bãi, phương tiện, hàng hóa giúp hoạt động dịch vụ logistics được thực hiện tốt hơn, nhanh hơn. Đặc biệt, từ năm 2013 đến nay, Bộ Công Thương đều đặn chủ trì tổ chức Diễn đàn Logistics Việt Nam, tạo được sự kết nối chặt chẽ và đối thoại thẳng thắn ở cả ba cấp độ giữa cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương, địa phương với hiệp hội, doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics.

Các đaị biểu tham dự hội thảo. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Các đaị biểu tham dự hội thảo. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Tuy nhiên, ông Trần Duy Đông cũng chỉ ra những hạn chế trong triển khai thực tiễn, cơ quan quản lý cấp sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, chủ yếu do một số quy định chồng chéo chưa phù hợp. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, triển khai xây dựng quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương chưa thực sự phát huy hiệu quả, hiệu lực. Một số tỉnh, thành phố có tiềm năng nhưng cơ sở hạ tầng thương mại, hạ tầng giao thông chưa được đầu tư tương xứng nên hoạt động dịch vụ logistics nhìn chung chưa phát triển.

Ngoài ra, điểm yếu của doanh nghiệp logistics Việt Nam là chi phí dịch vụ còn cao, chất lượng cung cấp một số dịch vụ chưa đáp ứng được thị trường khó tính. Hơn nữa, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại doanh nghiệp dịch vụ logistics còn nhiều hạn chế.

Tỷ lệ lớn ứng dụng công nghệ thông tin hiện đang được sử dụng tại doanh nghiệp dịch vụ logistics là ứng dụng cơ bản với những chức năng riêng biệt như quản lý giao nhận, kho bãi, trao đổi dữ liệu điện tử, quản lý vận tải hay khai báo hải quan... Không những thế, hoạt động triển khai, điều phối nhiệm vụ phát triển logistics quốc gia còn gặp nhiều khó khăn; bộ máy tổ chức và cán bộ chuyên trách quản lý nhà nước về dịch vụ logistics còn thiếu, chủ yếu kiêm nhiệm nên hiệu quả chưa cao.

Chính vì vậy, ông Trần Duy Đông cho rằng, việc đóng góp ý kiến về chủ trương, quan điểm, định hướng lớn cùng với những mục tiêu cụ thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 nhằm phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam bền vững, hiệu quả, chất lượng và giá trị gia tăng cao, khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới, phát huy lợi thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị logistics toàn cầu.

Hơn nữa, những đề xuất những giải pháp chủ yếu cùng với những nhiệm vụ, đề án, dự án triển khai tương ứng liên quan đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp logistics nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Ông Trần Thanh Hải- Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) chia sẻ về sự cần thiết xây dựng chiến lược.(Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Ông Trần Thanh Hải- Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) chia sẻ về sự cần thiết xây dựng chiến lược. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Báo cáo tại hội thảo, ông Trần Thanh Hải- Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cho hay, trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, tham gia tích cực vào các hiệp định thương mại tự do và với lợi thế địa kinh tế, dịch vụ logistics Việt Nam có nhiều cơ hội phát triển và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Do đó, Dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam bền vững, hiệu quả, chất lượng và có giá trị gia tăng cao, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới, phát huy lợi thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Trần Thanh Hải cho hay, mục tiêu năm 2030 là tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào tổng ngân sách quốc nội (GDP) đạt 6 - 8%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 60 - 70%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 16 - 18% GDP; xếp hạng theo chỉ số hiệu quả logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 45 trở lên. Đến năm 2050, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 12 - 15%; tỷ lệ thuê ngoài đạt 70 - 90%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 10-12%; xếp hạng theo chỉ số LPI trên thế giới đạt thứ 30 trở lên.

Bên cạnh hoàn thiện thể chế pháp luật, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ logistics, Bộ Công Thương sẽ tập trung xây dựng đội tàu biển quốc gia vững mạnh, tập trung hỗ trợ hình thành đội tàu biển container đủ sức chuyên chở hàng hóa đến thị trường lớn trên thế giới, xây dựng đội tàu bay chở hàng hóa. Đồng thời, thiết lập hệ thống đại lý, từng bước chuyển sang thiết lập văn phòng, đại diện và chi nhánh ở nước ngoài…

Theo ông Trần Thanh Hải, việc xây dựng Chiến lược phát triển dịch vụ logistics cho giai đoạn 10 năm tới sẽ giúp cho ngành logisctics có một bước đi dài hạn, tầm nhìn lớn hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics Việt Nam.

Toàn cảnh hội thảo. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Toàn cảnh hội thảo. (Ảnh: BNEWS/TTXVN)

Góp ý với Dự thảo Chiến lược, ông Phạm Hoài Chung- Phó Viện trưởng phụ trách Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông vận tải (Bộ Giao thông Vận tải) đề xuất cần chỉ rõ phương pháp, cách thức để thúc đẩy việc nhanh chóng ứng dụng công nghệ số trong logistics, tạo đột phá cho logistics Việt Nam. Đặc biệt là trong lĩnh vực vận tải hiện chiếm 60-70% chi phí và lộ trình thực hiện.

Cũng theo ông Phạm Hoài Chung, dự thảo Chiến lược nên làm rõ hơn về định hướng phát triển vận tải đa phương thức, xác định cụ thể địa phương nào có đủ lợi thế để phát triển thành các trung tâm dịch vụ logistics quốc gia, đóng vai trò kết nối giữa các tỉnh, thành phố trong Vùng, giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế.

Mặt khác, khi xây dựng dự thảo phải tập trung tính toán số liệu về phát triển nguồn nhân lực logistics, nhất là nhân lực chất lượng cao, chuyên nghiệp với kiến thức, kỹ năng quản lý, ứng dụng công nghệ, trình độ ngoại ngữ… theo chuẩn mực quốc gia, khu vực và thế giới đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu rộng. Hơn nữa, dự thảo cần bổ sung nghiên cứu về các hành lang Đông- Tây (hiện đang khá mờ nhạt), với vai trò vừa là cửa ngõ ra biển của hàng hoá Việt Nam và các nước trong khu vực. Đồng thời, mở rộng vai trò, tầm ảnh hưởng của dịch vụ logistics Việt Nam đến các quốc gia láng giềng./.

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất