Dự báo xuất khẩu xoài đạt 650 triệu USD vào năm 2030
Trồng xoài xuất khẩu đang là một hướng đi mới của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang trong nỗ lực tái cơ cấu ngành nông nghiệp. (Ảnh: TTXVN)

Trồng xoài xuất khẩu đang là một hướng đi mới của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang trong nỗ lực tái cơ cấu ngành nông nghiệp. (Ảnh: TTXVN)

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 ha xoài, sản lượng 1,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu nâng lên 650 triệu USD; có trên 70% cơ sở chế biến bảo quản xuất khẩu đạt trình độ và công nghệ tiên tiến…

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2020, kim ngạch xuất khẩu xoài của Việt Nam hơn 180 triệu USD, chỉ chiếm 1,15% tổng xuất khẩu xoài thế giới.

Thị trường xuất khẩu xoài Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc (83,9%), đạt gần 152 triệu USD; kế đến là thị trường Nga, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, EU, Australia, Nhật Bản…

Đơn vị này cũng cho biết, yêu cầu tiên quyết khi xuất khẩu xoài là truy xuất nguồn gốc. Riêng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2020 đã có 271 số mã vùng trồng được cấp để xuất khẩu.

Đáng lưu ý, diện tích trồng xoài theo tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP của vùng là 1.789 ha, chiếm 3,8% trên tổng diện tích. Vì vậy, cần tăng cường mở rộng hơn nữa diện tích trồng xoài đạt chuẩn để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.

Tại Đồng Tháp, xoài được lựa chọn là 1 trong 5 ngành hàng thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Trong thời gian qua, địa phương đã chú trọng cải tiến chuỗi giá trị ngành hàng trên cơ sở tổ chức lại sản xuất, sắp xếp các nhân tố tham gia bên trong ngành hàng xoài để nâng cao giá trị gia tăng, thu nhập cho người trồng xoài.

Ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thông tin, Đồng Tháp hiện có diện tích trồng xoài lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 12.171 ha, sản lượng hàng năm gần 124 ngàn tấn.

Hiện, gần 980 ha xoài trên địa bàn tỉnh đã được cấp mã vùng xuất khẩu sang thị trường khó tính và trên 4.200 ha được cấp mã vùng xuất sang thị trường Trung Quốc; 342 ha được chứng nhận VietGAP, GlobalGAP,....

Toàn tỉnh đã thành lập 8 hợp tác xã, 37 tổ hợp tác và 23 Hội quán nông dân trồng xoài, liên kết sản xuất và tiêu thụ xoài dài hạn 1.073 ha với trên 10 doanh nghiệp; có 05 sản phẩm của 3 cơ sở, đơn vị sản xuất đạt chuẩn OCOP 3 - 4 sao và tiêu thụ trong siêu thị.

Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp cũng cho rằng, ngành hàng xoài ở tỉnh Đồng Tháp nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung có tỉ lệ hao hụt sau thu hoạch còn khá lớn, có khi lên đến 70%; khâu phân loại chất lượng xoài tươi để tạo độ đồng đều về mặt chất lượng hạn chế, khâu bảo quản xoài tươi hao hụt nhiều; công nghệ chế biến tạo giá trị gia tăng sản phẩm còn nhiều bất cập; ố lượng diện tích sản xuất đạt thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP còn hạn chế.

Trong khi đó, các rào cản khắt khe về kỹ thuật, về tiêu chuẩn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật/hoá học để đáp ứng với thị trường tiêu thụ khác nhau đang là những thách thức lớn hiện nay.

Ngoài ra, cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong vùng nguyên liệu xoài, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lĩnh vực logistics, sau thu hoạch ngành hàng xoài còn hạn chế.

Mối liên kết về sản xuất, chế biến, tiêu thụ của các tỉnh có trồng xoài ở Đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng còn nhiều bất cập.

Bên cạnh đó, việc quản lý và sử dụng mã số vùng trồng và mã số nhà đóng gói xuất khẩu sang các thị trường chưa chặt chẽ, dễ gây mất uy tín cho địa phương và thiệt hại cho nông dân.

Ngành nông nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu là đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 ha xoài, sản lượng 1,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu nâng lên 650 triệu USD; có trên 70% cơ sở chế biến bảo quản xuất khẩu đạt trình độ và công nghệ tiên tiến…

Để thực hiện mục tiêu gia tăng xuất khẩu xoài, bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng, Cục Bảo vệ thực vật kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư nâng cấp các trung tâm kỹ thuật của Cục Bảo vệ thực vật để thực hiện các nghiên cứu phục vụ dỡ bỏ rào cản kỹ thuật, mở cửa thị trường và thực hiện giám định sinh vật gây hại, kiểm tra dư lượng trước khi xuất khẩu; số hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói, cơ sở xử lý trên cơ sở kết nối từ người nông dân đến doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan kiểm tra tại cửa khẩu.

Đối với các địa phương, bà Nguyễn Thị Thu Hương đề nghị, cần phải đẩy mạnh vấn đề liên kết, tạo vùng nguyên liệu trên cơ sở quản lý chặt chẽ vùng trồng; tăng cường đào tạo, tập huấn cho cán bộ kỹ thuật ở địa phương; giao cơ quan Bảo vệ và kiểm dịch thực vật ở địa phương thực hiện nhiệm vụ quản lý vùng trồng, cơ sở đóng gói để xuất khẩu.

Thu hoạch xoài cát tại Hậu Giang. (Ảnh: TTXVN)

Thu hoạch xoài cát tại Hậu Giang. (Ảnh: TTXVN)

Đối với doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của nước nhập khẩu và của cơ quan chuyên ngành Việt Nam; liên kết sản xuất, chủ động vùng nguyên liệu và giám sát thường xuyên để đảm bảo vùng nguyên liệu luôn đạt yêu cầu; chủ động cập nhật thông tin xuất khẩu,…

Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, cả nước có diện tích xoài 87.000 ha, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 48%, đây là yếu tố rất tốt để nâng chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn, quy chuẩn để xuất khẩu và lưu hành trong thị trường nội địa.

Mặt khác, Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 42% diện tích được cấp mã số vùng trồng, đây là điều kiện thuận lợi để triển khai hợp tác nâng cao chất lượng tiêu chuẩn xoài Việt Nam.

Tuy nhiên, diện tích xoài đạt tiêu chuẩn VietGAP chỉ chiếm 3,8% diện tích, như vậy vấn đề triển khai các mô hình theo tiêu chuẩn VietGap, GlobalGAP vẫn phải cần đẩy mạnh.

Thứ trưởng Trần Thanh Nam lưu ý, ngoài việc chú trọng vấn đề xuất khẩu, các địa phương cần chú ý đến chất lượng, các tiêu chuẩn để quả xoài vào được những hệ thống siêu thị để đẩy mạnh thị trường tiêu thụ trong nước, đây là một xu hướng cần hướng đến trong thời gian tới.

Ngoài ra, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần đẩy mạnh liên kết tiêu thụ, tổ chức nâng cao chất lượng cho xoài từ khâu trồng, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch.

Đặc biệt, phải xác định được thị trường mục tiêu để phối hợp với doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng tiêu chuẩn phù hợp nhằm định hướng cho nông dân, đảm bảo hài hòa với các tiêu chuẩn, quy định của quốc tế và Việt Nam, giảm chi phí cho nông dân.../.

Nguồn: Bnews.vn

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất